Posted in Reflection

Về vũ trụ

Đây gần giống như một ghi chú nhỏ của mình trong quá trình đọc “Vũ trụ trong một nguyên tử” của Đạt Lai Lạt Ma. Có lẽ chủ yếu nó nằm dưới dạng câu hỏi và nhận xét, không có giá trị tham khảo hay định hướng gì. Nếu ai có hứng thú bàn luận với mình về vấn đề này thì mình rất biết ơn.

Trước hết phải nói một điều là mình chưa từng tìm hiểu chính thức gì về giáo lý Phật giáo hay định nghĩa tự thân của tôn giáo này về bản thân nó. Mình gom nhặt kiến thức thông qua tiếp xúc vô tình trong cuộc sống hằng ngày (Phật giáo ăn sâu vào một số phương diện trong cuộc sống của con người Việt Nam lẫn các nền văn hóa khác trên thế giới). Mình luôn cho rằng Phật giáo tôn thờ Đức phật, thông qua hình thức tu tập lẫn giới luật được quy định, hướng về sự giải thoát tâm thần cho con người, đưa họ đến Tây phương cực lạc – chốn bồng lai tiên cảnh không còn đau khổ.

Nhưng qua những gì mình đọc được của Đạt Lai Lạt Ma đến giờ phút này thì ông nói Phật giáo là tôn giáo vô thần. Bản thân nó có những dòng và thuyết phủ nhận sự tồn tại tuyệt đối của thần linh. Tôn giáo hay chính xác hơn là dòng tư tưởng này chỉ hướng tới mục đích phổ độ chúng sinh. Vậy thì, nói cách khác, nó chỉ là một phương pháp tu luyện mà trong đó Đức Phật hay các môn đồ của ngài là những người đã thành công.

Mình có thắc mắc sâu sắc về ý nghĩa của sự tồn tại (Tại sao chúng ta lại sống? Mục đích của sự sống là gì?, vân vân), bản thân mình cũng nhận thấy nhiều điểm tương đồng của triết học và vật lý. Mình nghĩ, vật lý là con đường đúng đắn nhất để tìm hiểu về bản chất sự sống, chính xác thông qua những con số, tiên đề, định lý và phương pháp đo lường thực nghiệm khách quan. Mình vừa bất ngờ vừa vui sướng khi biết rằng Đạt Lai Lạt Ma cũng như nhiều nhà vật lý học trên thế giới đã nhận thấy sự tương đồng này từ lâu. Họ đối chiếu tư tưởng triết học Phật giáo với kết quả của vật lý, cùng hướng tới mục tiêu tìm hiểu bản chất sự sống, bản chất thế giới.

Mình lại càng ngạc nhiên trước sự mâu thuẫn trong chính hiện thực khách quan – công cụ đo lường, vốn không phải một loài hữu tình nên dĩ nhiên tự thân nó không thiên vị một kết quả thực nghiệm nào. Ví dụ như thuyết nhị nguyên sóng-hạt được trình bày trong quyển sách này đưa ra thực nghiệm cho thấy electron vừa là sóng vừa là hạt. Kết quả phụ thuộc vào cách đo lường. Người khảo nghiệm tham gia vào hiện thực được khảo nghiệm. Hiện thực và con người tồn tại không thể tách rời. Hiện thực không hề tuyệt đối. Ý thức sinh ra vật chất, vật chất cũng sinh ra ý thức, chúng tác động qua lại lẫn nhau chứ không phải mối quan hệ quy định một chiều. Cơ học lượng tử hóa ra được xây dựng trên nền tảng quy định sự bất định của thế giới. Không có kết quả hay phương thức toán học nào chính xác tuyệt đối, chúng luôn chỉ gần đúng.

Mọi thứ trên thế giới, trong quan điểm của Đạt Lai Lạt Ma, tồn tại dựa trên căn duyên phụ thuộc. Hiện thực, thế giới là một mạng lưới mối quan hệ liên đới phụ thuộc phức tạp mà trong đó, nguyên nhân phụ thuộc sinh ra điều kiện phụ thuộc. Không có nguyên nhân đầu tiên, không có kết quả cuối cùng. Vật lý chỉ đúng tính từ thời điểm nhiệt độ sau vụ nổ Big Bang tăng lên đúng đến nhiệt độ thích hợp cho sự đo lường. Trước đó, không ai biết vũ trụ tồn tại dưới dạng gì.

Cá nhân mình trước khi đọc quyển sách này thì đinh ninh con người không có bản ngã. Tính cách chỉ là phản ứng ngẫu nhiên tùy theo thay đổi môi trường và số liệu sinh học. Cảm xúc đến rồi lại đi. Con người không níu giữ được gì trong thế giới không ngừng vận động. Con người có vị trí riêng được quy định trong một hệ thống nên bản chất của con người là cô đơn, nhưng không nên chấp niệm đau khổ với cô đơn vì ta nằm trong một mạng lưới vạn vật. Cây cỏ không cô đơn, chúng chấp nhận bản thể của mình. Đây là những gì mình tự khuyên nhủ bản thân trong những lúc nản lòng ngã chí nhất trước dòng đời không ngừng hướng về phía trước như con tàu cao tốc chẳng chịu quay đầu ngoái nhìn quá khứ hay dừng lại một lần. Nhưng theo những trình bày của Đạt Lai Lạt Ma, mình lại thấy nghi ngờ về giả thuyết này của bản thân, vì dường như con người có bản ngã (nó xuất hiện trong sự tương tác với vạn vật xung quanh) nhưng đồng thời nó cũng không tồn tại (mang tính nhất thời, ngẫu nhiên, không có thứ gì tồn tại hoàn toàn độc lập, khách quan vì mọi thứ đều tương tác lẫn nhau). Như vấn đề về vật chất và ý thức, thế giới thực nghiệm và thế giới siêu hình, chúng có quan hệ với nhau nhưng đồng thời lại mâu thuẫn với nhau.

Chiều kích lớn nhỏ, phương diện khác biệt của nhân tính, thế giới khiến mình cảm thấy ngạc nhiên và hoang mang quá đỗi. Những thứ từng được coi là tuyệt đối trở nên tương đối, nền tảng tư duy trở nên lỏng lẻo, hình ảnh thế giới bùm phát nổ tung rồi hỗn độn như kì hỗn mang. Đạt Lai Lạt Ma có tư tưởng sâu sắc như thế về vũ trụ, con người, nhưng bản thân ông lại chẳng làm nổi điều gì thiết thực để giải phóng Tây Tạng khỏi Trung Quốc. Ông là một người dân lưu vong hạnh phúc. Việc một người có tâm rộng mở giải phóng khỏi cõi trần lại phải mang trọng trách trần tục nhất – trấn hưng một quốc gia, khiến mình cảm thấy thật vi diệu. Ông muốn độc lập cho dân tộc mình nhưng trong tư tưởng ông, vạn sự đều xảy ra do nguyên nhân tiềm năng. Trong cùng một thế giới, những người trẻ Hong Kong đang không ngừng nỗ lực để giải phóng quốc gia của họ khỏi gông xiềng của Trung Hoa đại lục. Chiều kích siêu hình lẫn hiện thực kinh nghiệm tồn tại song song, chưa thể giải thích như cơ học lượng tử và thuyết tương đối.

Mình quan tâm đến vũ trụ nhưng cũng bị ràng buộc bởi cuộc sống áo cơm gạo tiền như bao người khác. Biết được vũ trụ đa bội có giúp gì cho thu nhập của mình không? Có người cứ sống, làm việc rồi chết đi mà không hề để ý lý do mình tồn tại, một cách hạnh phúc. Người khác, đau khổ vì chẳng hiểu mình sinh ra để làm gì và do đâu bản thân phải chịu đựng giày vò từ khi ra đời. Cuộc sống nào tốt hơn?

P/s: triết học Phật giáo phức tạp, vật lý phức tạp, toán học thì khó. Con dân như mị biết làm sao TT ____ TT

Advertisements

Author:

Linh hồn trong thế giới ngược

One thought on “Về vũ trụ

  1. Hôm nay còn mới đọc thêm một số quan điểm về văn chương của Isaac Singer với cả bài phát biểu công bố Ernest Hermingway giành giải Nobel Văn chương nữa chứ. Văn học không nên mang tính quốc tế mà phải mang tính dân tộc. Không tôn thờ chủ nghĩa hư vô vì nó đem lại tác động tiêu cực, một chiều cho nhận thức con người. Nhưng nói thật thì chẳng phải những thuyết Đạt Lai Lạt Ma đưa ra đều dính dáng tới “trống rỗng”, “các hạt trống rỗng” sao? Tuy đồng thời ông cũng khẳng định về mạng lưới quan hệ tác động qua lại phức tạp giữa vạn vật. Chúng ta không tồn tại tách rời khỏi các vật thể khác. Mà nói thật, mình không thích con người, ngày càng khẳng định điều này luôn. Hermingway đề cao tinh thần, trách nhiệm, sự chịu đựng dã cả man “Con người có thể bị hủy hoại nhưng không thể bị đánh bại.”, như Nathan Law phát biểu trong buổi tuyên thệ của tân Nghị sĩ trong Hội đồng Lập pháp Hong Kong, “Các người có thể bắt trói tôi, thậm chí hủy hoại cơ thể tôi. Nhưng các người không thể khuất phục tâm hồn tôi.”. Trung Quốc thì có tiền lệ mổ sống lấy nội tạng những kẻ phản đối rồi. Tội ác man rợ, tâm trí thanh bình, những số phận khác biệt, bất công và bình đẳng, mình luân phiên nghĩ về những điều này. Lại nghĩ tới một Isaac cố gắng trả lại vị thế cho ngôn ngữ Yiddish cho dân tộc ông, phê phán những thứ tình cảm hư vô làm què quặt tâm hồn con trẻ, ca ngợi những tuyệt tác tái hiện cuộc sống gần như trọn vẹn như “Chiến tranh và hòa bình”. Sự chối bỏ và thừa nhận, tiền bạc tương lai rồi nhận thức cá nhân. Khiếp, một kẻ không có niềm tin như mình bị sóng bên trái rồi bên phải tạt cho nát bét như quả chuối giữa dòng thác lũ chảy xiết. Cột trụ chống đỡ cho mình bở ra, thứ đang giữ mình đứng vững là lớp xi-măng chảy ra từ những lần sụp đổ trước, nó đã quánh lại một cách xấu xí, đầy những lỗ rỗng trên bề mặt. Mình không muốn bản thân trở nên xấu xí, tâm mình nên khách quan, vạn sự nên tùy duyên, nhưng đây đâu phải cách một con người sống. Phật giáo, về bản chất, là tẩy trắng cái tôi, xóa bỏ bản ngã, buông tha cho tình cảm – biểu hiện đặc trưng của tính cách. Phải chăng vì không thể giải quyết được nên phải xóa bỏ nó? Hay đây là đường cùng bất đắc dĩ của con người sau khi bị đẩy vào thảm cảnh không thể xoay vần thế giới 7 tỷ người nên phải tự ức chế cá tính bản thân? Thiền là nén ép oán niệm con người hay xóa bỏ chúng? Đức phật phải chăng chỉ là kẻ có sức chịu đựng phi thường? Chịu đựng tương đương với giải thoát? Nhẫn nhịn là chìa khóa giải quyết mọi vấn đề? Ủa, vậy chứ các bệnh lý tâm lý không phải sinh ra do chịu đựng quá nhiều à? Biến mình thành kẻ lạnh lùng vô dục vô cầu không phải điều mình muốn, nên đến giờ mình vẫn không có ý định theo Phật pháp, tuy quan điểm của mình có nhiều chỗ tương đồng với tôn giáo này. Và trong những ngày Hà Nội se lạnh đầu mùa, cơn nhức đầu quen thuộc do gió lạnh trở về, miệng mồm lại khô khốc sau những giấc ngủ dài nặng nề, sự hoài nghi trở nên sâu sắc, lòng mình yếu ớt và dễ dàng tổn thương hơn bao giờ hết thế này, mình càng khao khát một giáo lý hay đấng vô cực nào đó làm chỗ dựa cho bản thân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s